Nói đến huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang là nhắc đến một vùng quê có truyền thống lịch sử văn hóa, truyền thống cách mạng. Hiệp Hòa có truyền thống hiếu học và văn hóa, 18 người đỗ tiến sỹ trong đó có những người nổi tiếng như tiến sỹ Đoàn Xuân Lôi, tiến sỹ Nguyễn Kính, tiến sỹ Nguyễn Đình Tuân, Trịnh Ngô Dụng, Nguyễn Xuân Chính...Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Hiệp Hòa là vùng an toàn khu 2 của cách mạng.

Thời kỳ 1945 - 1954

Sau cách mạng tháng 8/1945 thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “diệt giặc dốt” dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, UBND huyện Hiệp Hòa và Ty Bình dân học vụ tỉnh Bắc Giang cùng truyền thống hiếu học của nhân dân Hiệp Hòa phong trào Bình dân học vụ được tổ chức có hiệu quả ở các xã trong huyện. Tỷ lệ người biết đọc biết viết một số chữ cơ bản tăng lên đáng kể.

Ngành học phổ thông - dưới chế độ mới có điều  kiện phát triển nhanh hơn: Trường phổ thông cấp II Tiền Tiến (thành lập 1951 ở xã Hoàng Vân) được chuyển về khu trung tâm huyện (thuộc xã Đức Thắng) với 310 học sinh, 10 giáo viên, đổi tên là Trường phổ thông cấp II Hiệp Hoà.

Thời kỳ 1954 - 1964

Thực hiện đường lối giáo dục của Đảng "Học với hành", "Nhà trường gắn với địa phương", sự nghiệp giáo dục phát triển nhanh và toàn diện. 

Năm 1957 xây dựng thêm 2 trường phổ thông cấp II, và 14 trường phổ thông cấp I, với gần 3000 học sinh.

Để chăm lo tốt hơn nữa đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, BCH TW ra Chỉ thị số 74CT-TW về việc tăng cường công tác bổ túc văn hoá và thanh toán nạn mù chữ trong năm 1958. Toàn huyện có 450 người tham gia tổ chức, chỉ đạo, điều hành. 340 giáo viên, 315 lớp, hơn 37.800 học viên từ nhi đồng đến các cụ 60-70 tuổi.

Về  ngành học phổ thông , đến năm 1960, 100% số xã có trường phổ thông cấp I (lớp 1 đến lớp 4), gồm 89 lớp, 195 giáo viên, trên 7000 học sinh; 8 xã có trường phổ thông cấp II.

Thời kỳ 1964 – 1975

Đây là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh giải phong Miền nam, chống chiến tranh phá hoại Miền Bắc. Trong điều kiện có chiến tranh phá hoại, các trường học phải sơ tán nhiều lần, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, thầy- trò phải đội mũ rơm đi học… Nhưng với tinh thần quyết tâm dạy tốt- học tốt sự nghiệp giáo dục vẫn có bước phát triển.

Năm học 1972-1973 toàn huyện có 981 lớp, hơn 40.000 học sinh. Mỗi năm có khoảng 1.500 em học hết lớp 7, lớp 10 và bổ túc văn hoá. Hầu hết  học sinh đỗ tốt nghiệp cấp I được vào cấp II, 30% học hết cấp II được vào cấp III. Số giáo viên năm 1972 tăng 191% so với năm 1968.

Đến năm 1975 mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp các xã trong huyện (100% xã có trường cấp 1, cấp 2, lớp mẫu giáo, các cơ quan trên địa bàn đề có nhà trẻ. Chất lượng giáo dục huyện Hiệp Hòa ngày càng được nâng lên; nhiều thế hệ Thày cô giáo và học sinh tình nguyện xẻ dọc trường sơn đi cứu nước, là những tấm gương sáng cho học sinh noi theo, nhiều học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Hà Bắc và toàn Miền Bắc, Phòng GD&ĐT Hiệp Hòa và các trường Phổ thông cơ sở Đức Thắng được tặng thưởng Huân chương lao động, Bằng khen của Chính phủ, của Tỉnh và Ty giáo dục, là nơi tụ hội của lớp lớp các thầy cô tiêu biểu, nổi tiếng một thời ...Những cái tên như Nguyễn Văn Sinh, Tống Văn Nụ, Nguyễn Kháng, Phạm Giang Khôi, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Đình Trực, Phương Văn Thuyên ...đã mãi mãi in sâu trong ký ức của bao thế hệ học trò thời ấy.

Thời kỳ 1975 - 2000

Đến năm 1985 sự nghiệp giáo dục được duy trì và giữ vững. Cơ sở  vật chất dạy và học được tăng cường, 97% số lớp học đã lợp ngói.

Đến năn 2000, giáo dục đào tạo huyện Hiệp Hòa tiếp tục phát triển. Cơ sở vật chất dạy và học ngày càng được tăng cường. Chất lượng giáo dục có chuyển biến. Tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp ở các cấp học đạt từ 95% trở lên, chất lượng học sinh giỏi bình quân hàng năm tăng 1,5%, tỷ lệ học sinh xếp loại khá, giỏi đạt trên 30%. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học và trung học chuyên nghiệp đạt trên 30%. Có 34 trường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện và cấp tỉnh, có 5 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, 100% xã, thị trấn phổ cập tiểu học, 11 xã phổ cập trung học cơ sở. Hai thầy cô giáo được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Nhà giáo ưu tú".

Đến nay (2019).

Phòng GD&ĐT xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục các giai đoạn 2000 – 2010, 2010 – 2015, 2015 – 2017 và giai đoạn 2017-2020, rà duyệt quy mô số lớp, học sinh đến năm 2025 đảm bảo phù hợp với tình hình của huyện và các xã, thị trấn theo hướng: Dồn dịch các điểm trường lẻ trong trường mầm non, tiểu học có quy mô nhỏ,  điều kiện cơ sở vật chất khó khăn về các điểm trường trung tâm.

Về đội ngũ: biên chế có mặt tính đến ngày 01/7/2019 là 2.975 người. Biên chế còn thiếu là 154 người, cụ thể:

- Bậc mầm non được giao 1050 người (105 CBQL, 877 giáo viên, 68 hành chính), biên chế có mặt là 1.015 người (102 CBQL, 846 giáo viên, 67 hành chính), biên chế còn thiếu là 35 người (03 CBQL, 31 giáo viên, 01 hành chính).

- Bậc tiểu học được giao 1185 người (80 CBQL, 985 giáo viên, 32 Tổng phụ trách Đội, 88 hành chính), biên chế có mặt là 1.093 người (77 CBQL, 896 giáo viên, 32 Tổng phụ trách Đội, 88 hành chính), biên chế còn thiếu là 92 người (03 CBQL, 89 giáo viên).

- Bậc THCS được giao 894 người (56 CBQL, 732 giáo viên, 27 Tổng phụ trách Đội, 79 hành chính), biên chế có mặt là 867 người (50 CBQL, 720 giáo viên, 27 Tổng phụ trách Đội, 70 hành chính), biên chế còn thiếu là 27 người (06 CBQL, 12 giáo viên, 09 hành chính).

Chất lượng đội ngũ: 100% cán bộ quản lý các trường học có trình độ đảm bảo theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp: bậc mầm non: trình độ từ trung cấp trở lên đạt 100%, trên trung cấp đạt 77,8%; bậc tiểu học: trình độ từ trung cấp trở lên đạt 100%, trên trung cấp đạt 97,8%; bậc THCS: trình độ từ cao đẳng trở lên đạt 99,6%, trên cao đẳng đạt 74,8%.

Công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên được quan tâm: Hằng năm Sở Nội vụ đều mở các lớp bồi dưỡng cho cán bộ quản lý các cấp. Phối hợp với Trung tâm bồi dưỡng thường xuyên tỉnh mở được 02 lớp (104 học viên lớp tiếng Anh A2; 84 học viên lớp ứng dụng CNTT cơ bản)

Tỷ lệ huy động trẻ: Nhà trẻ huy động  522/10313, đạt 5,06% so với điều tra; Mẫu giáo 16262/ 16591 đạt 98% so với điều tra. So với kế hoạch là 16262/16260 đạt 100,01%. 100% trẻ đến trường được ăn bán trú và theo dõi sức khỏe theo biểu đồ.

Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: 302/16785 chiếm 1,7%, so với năm học trước giảm 0,24%; thể thấp còi 423/16785 chiếm 2,5%, so với năm trước giảm 0,12%. Giảm so với đầu năm 1-3% (tỷ lệ SDD nhẹ cân cuối năm còn 2,55%; tỷ lệ SDD thấp còi cuối năm còn 1,83% ).

Thực hiện đầy đủ chính sách đối với trẻ theo quy định, quan tâm trẻ khuyết tật, trẻ khó khăn. 100% trẻ đến trường được an toàn.

Kết quả thi giáo viên giỏi cấp huyện chu kỳ 2017-2019 đạt 271/ 847giáo viên đạt 31,99%...

Về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh: Chỉ đạo tổ chức lựa chọn, sàng lọc thành lập đội dự tuyển học sinh giỏi và tổ chức bồi dưỡng, học tập trung các môn văn hóa ngay từ tháng 11/2018; tuyển chọn giáo viên có năng lực chuyên môn, nhiệt huyết và trách nhiệm bồi dưỡng học sinh giỏi; thường xuyên kiểm tra, khảo sát chất lượng các đội tuyển; thành lập tổ ra đề thi thử cho các đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh. Kết quả thi học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh: đạt 53 giải trong đó có 4 giải Nhất, 13 giải Nhì, 19 giải Ba, 17 giải Khuyến khích. So với năm học 2017-2018, tăng 11 giải (tăng 4 giải Nhất, 7 giải Nhì), tăng 4 bậc về thứ hạng, xếp thứ 01/10 huyện, thành phố.

Về công tác thi khoa học kỹ thuật: Kết quả có 05/05 sản phẩm đạt giải (01 giải Nhì, 02 giải Ba, 02 giải Khuyến khích).

Tham gia cuộc thi “Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng”. Năm 2018, đạt 04 giải (01 giải Ba; 03 giải Khuyến khích) tăng 01 giải so với cùng kỳ năm học trước. Thi Tin học cấp tỉnh đạt 02 giải (01 Ba, 01 Khuyến khích). Năm 2019: đạt 01 giải Nhất, 01 giải Nhì và 01 giải Khuyến Khích, xếp thứ 01/10 huyện, thành phố tại Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bắc Giang năm 2019.

Kết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT: Tính riêng mặt bằng các trường chuẩn quốc gia trong toàn tỉnh, huyện Hiệp Hòa đạt bình quân 7.08 điểm trên 4 môn thi (Ngữ văn 6.86 điểm xếp thứ 1/10 huyện, thành phố; toán7.38 điểm, xếp thứ 1/10 huyện, thành phố, tiếng Anh:6.09 điểm, xếp thứ 3/10 huyện, thành phố, Địa lý: 8.01 điểm,xếp thứ 2/10 huyện, thành phố). Số học sinh trúng tuyển, điểm bình quân 4 môn của huyện đạt 6,9 điểm, xếp thứ 3/10 huyện, thành phố (Văn: 6.78 điểm, xếp thứ 1/10 huyện, thành phố; toán:5.72 điểm, xếp thứ 3/10 huyện, thành phố; tiếng Anh: 7.22 điểm, xếp thứ 2/10 huyện, thành phố; Địa lý: 7.88 điểm, xếp thứ 2/10 huyện thành phố)

Tổ chức nghiêm túc Hội thi giáo viên giỏi cấp huyện chu kỳ 2017-2019; tham gia hội thi giáo viên giỏi cấp tỉnh chu kỳ 2016-2019 đạt hiệu quả cao (có 50 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh chu kỳ 2016-2019 qua 3 vòng thi, xếp thứ 2/10 huyện, thành phố).

Tổ chức các cuộc thi Thể dục thể thao trong khuôn khổ Hội khỏe phù đổng cấp huyện và tham gia các cuộc thi cấp tỉnh xếp thứ 3/10 huyện, thành phố, tăng 03 bậc so với năm học trước.

Kết quả công tác phổ cập giáo dục- xóa mù chữ: Toàn huyện có 26/26 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGD Mầm non trẻ 5 tuổi; 26/26 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH ĐĐT mức độ 3; 10/26 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS mức độ 2, chuẩn mù chữ mức độ 2 và 16/26 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS mức độ 3.

Mục tiêu chung đến thời gian tới

Thực hiện đồng bộ các giải pháp, tạo chuyển biến mới về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo. Khắc phục, tạo sự chuyển biến căn bản các vấn đề về GD&ĐT mà xã hội quan tâm. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân, giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng an ninh và hướng nghiệp cho học sinh, đảm bảo hiệu quả, thiết thực, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện. Tiếp tục chỉ đạo 100% các trường phổ thông thực hiện việc giảng dạy lích sử địa phương và tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong các tiết học chính khóa. Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục lý tưởng cách mạng, các hoạt động trải nghiệm của học sinh.

- Giáo dục mầm non: Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non; tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực quản trị nhà trường đảm bảo cơ sở vật chất, giảm tình trạng quá tải sĩ số học sinh/lớp; đảm bảo an toàn cho trẻ đến trường, nâng cao chất nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ.

- Giáo dục phổ thông: Tích cực chuẩn bị các điều kiện (về con người, cơ sở vật chất...) để thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, nhất là lớp 1; đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, phân luồng trong giáo dục phổ thông, giáo dục gắn với hướng nghiệp; tiếp tục đổi mới công tác quản lý, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị. Nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh, Tin học. 100% các trường tiểu học, THCS, THPT duy trì hoạt động câu lạc bộ tiếng Anh. Quản lý chặt chẽ chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Anh Ngữ trên địa bàn huyện.Tăng cường chỉ đạo công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ngành giáo dục nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, giỏi về quản lý, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu về đổi mới toàn diện giáo dục. Tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, trong đó tập trung cao việc củng cố nâng cao chất lượng phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, phổ cập GDTH đúng độ tuổi mức độ 3; Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch dạy học tiếng Anh trong các cơ sở giáo dục đến năm 2020; Kế hoạch thực hiện Đề án dạy tin học và ứng dụng CNTT trong các trường phổ thông giai đoạn 2020-2025...Tham mưu ban hành kế hoạch đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông trên địa bàn huyện. Nâng cao chất lượng và duy trì có hiệu quả hoạt động của trường trọng điểm chất lượng cao THCS Thị trấn Thắng. Xây dựng Đề án sáp nhập trường theo lộ trình và điều chuyển giáo viên, bổ nhiệm cán bộ quản lý đảm bảo khách quan, công tâm. Tiếp tục tuyên truyền, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư xây dựng trường tư thục trên địa bàn huyện.

                                       Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Phòng GD&ĐT Hiệp Hòa

                                                                       (Tiếp tục cập nhật)